1
Hướng dẫn cách bay, Autopilot và hạ cánh ILS cơ bản on Sun Aug 15, 2010 3:54 pm
bugmenot123
Cadet

Bài này để các bác mới bắt đầu chơi hiểu rõ hơn về 2 hệ thống trên của các máy bay có sẵn trong FS qua đó có thể nắm vững 3 kĩ năng cơ bản là: cất cánh, bay bằng AP và hạ cánh.
Ở đây mình chọn máy bay Cessna Skyhawk 172, cũng như các mem khác khuyên các bác nên bay trước với loại này vì đây là loại nhỏ, nhẹ và dễ bay. 2 hệ thống này trong các máy bay default về cơ bản là giống nhau, có thể khác nhau về vị trí nút bấm, tên gọi ... giữa các loại. Các bác chỉ cần làm theo thứ tự từ trên xuống dưới.

Change 1: Chọn máy bay, change 2: chọn vị trí của máy bay (ko phải là vị trí sân bay cất cánh), change 3: chọn loại thời tiết, change 4: chọn thời gian (nên chọn ban ngày để dễ nhìn hơn)
Sau khi chọn xong, bấm vào Flight Planner để chọn lộ trình chuyến bay

Nhấn Select... ở mục 1 để chọn sân bay cất cánh, ở đây mình chọn sân bay Cát Bi với Airport ID là VVCI, Select... ở mục 2 để chọn sân bay sẽ bay đến là Nội Bài VVNB
Ở mục 3: VFR là phi công sẽ bay bằng mắt thường, mình chọn IFR để bay theo sự hướng dẫn của đài dẫn đường bay (ATC) mới chơi thì nên bay theo kiểu này vì sẽ được hướng dẫn bay theo hướng nào, khi nào phải hạ độ cao...
Mục 4: Chọn Direct – GPS để bay thẳng một đường tới Nội Bài, chọn những cái khác để bay theo tuyến (xa hơn nhưng thật hơn)
Sau đó bấm Find Route ở mục 5 sẽ thấy đường bay đc vẽ ra từ VVCI – VVNB, bấm NavLog... để xem thêm thông tin về chuyến bay, Cruising Altitude là độ cao để bay.
Xong, chọn OK rồi OK một lần nữa ở cửa sổ hiện ra để lưu Flight Plan, lần sau muốn bay lại tuyến đó chỉ cần Load lại.
Khi FS hỏi “Do you want FS to move...” chọn Yes để nó đưa máy bay tới đường băng (runway) của VVCI để sẵn sàng cất cánh luôn -> Bấm Fly Now.

Bên trên là 6 bảng đồng hồ quan trọng của máy bay:
1: Airspeed indicator: chỉ tốc độ, tốc độ đc biểu thị này thường thấp hơn tốc độ thực nhưng chưa cần quan tâm.
2: Attitude indicator: biểu thị đường chân trời và mũi của máy bay, đồng hồ trong hình hiển thị máy bay đang bay song song với mặt đất. Tam giác màu cam chỉ độ quẹo, mỗi vạch trắng (2 bên) chỉ 10 độ.
3: Altimeter: chỉ độ cao, mỗi vạch chỉ 200 feet
4: Turn coordinator: chỉ độ nghiêng cánh khi quẹo.
5: Heading indicator: chỉ hướng, trên hình, máy bay đang hướng 70 độ do ở đây máy bay đang đứng trên runway 7. Nếu đứng ở đầu runway 25 đối diện, đồng hồ sẽ chỉ 250

6: Vertical speed indicator: chỉ tốc độ theo phương dọc hay tốc độ lên cao (climb)/xuống thấp (descend) tính theo feet/phút. Mỗi vạch biểu thị 100 feet.
Bây giờ mình sẽ cất cánh trước, những thứ liên quan sẽ hướng dẫn lần lượt khi bay.
Ở đây mình chọn máy bay Cessna Skyhawk 172, cũng như các mem khác khuyên các bác nên bay trước với loại này vì đây là loại nhỏ, nhẹ và dễ bay. 2 hệ thống này trong các máy bay default về cơ bản là giống nhau, có thể khác nhau về vị trí nút bấm, tên gọi ... giữa các loại. Các bác chỉ cần làm theo thứ tự từ trên xuống dưới.

Change 1: Chọn máy bay, change 2: chọn vị trí của máy bay (ko phải là vị trí sân bay cất cánh), change 3: chọn loại thời tiết, change 4: chọn thời gian (nên chọn ban ngày để dễ nhìn hơn)
Sau khi chọn xong, bấm vào Flight Planner để chọn lộ trình chuyến bay

Nhấn Select... ở mục 1 để chọn sân bay cất cánh, ở đây mình chọn sân bay Cát Bi với Airport ID là VVCI, Select... ở mục 2 để chọn sân bay sẽ bay đến là Nội Bài VVNB
Ở mục 3: VFR là phi công sẽ bay bằng mắt thường, mình chọn IFR để bay theo sự hướng dẫn của đài dẫn đường bay (ATC) mới chơi thì nên bay theo kiểu này vì sẽ được hướng dẫn bay theo hướng nào, khi nào phải hạ độ cao...
Mục 4: Chọn Direct – GPS để bay thẳng một đường tới Nội Bài, chọn những cái khác để bay theo tuyến (xa hơn nhưng thật hơn)
Sau đó bấm Find Route ở mục 5 sẽ thấy đường bay đc vẽ ra từ VVCI – VVNB, bấm NavLog... để xem thêm thông tin về chuyến bay, Cruising Altitude là độ cao để bay.
Xong, chọn OK rồi OK một lần nữa ở cửa sổ hiện ra để lưu Flight Plan, lần sau muốn bay lại tuyến đó chỉ cần Load lại.
Khi FS hỏi “Do you want FS to move...” chọn Yes để nó đưa máy bay tới đường băng (runway) của VVCI để sẵn sàng cất cánh luôn -> Bấm Fly Now.

Bên trên là 6 bảng đồng hồ quan trọng của máy bay:
1: Airspeed indicator: chỉ tốc độ, tốc độ đc biểu thị này thường thấp hơn tốc độ thực nhưng chưa cần quan tâm.
2: Attitude indicator: biểu thị đường chân trời và mũi của máy bay, đồng hồ trong hình hiển thị máy bay đang bay song song với mặt đất. Tam giác màu cam chỉ độ quẹo, mỗi vạch trắng (2 bên) chỉ 10 độ.
3: Altimeter: chỉ độ cao, mỗi vạch chỉ 200 feet
4: Turn coordinator: chỉ độ nghiêng cánh khi quẹo.
5: Heading indicator: chỉ hướng, trên hình, máy bay đang hướng 70 độ do ở đây máy bay đang đứng trên runway 7. Nếu đứng ở đầu runway 25 đối diện, đồng hồ sẽ chỉ 250

6: Vertical speed indicator: chỉ tốc độ theo phương dọc hay tốc độ lên cao (climb)/xuống thấp (descend) tính theo feet/phút. Mỗi vạch biểu thị 100 feet.
Bây giờ mình sẽ cất cánh trước, những thứ liên quan sẽ hướng dẫn lần lượt khi bay.




chuyển về như hình để AP hiểu là mình sẽ bay theo GPS.








). Có cái phần lúc chọn route chưa hiểu lắm